Rối loạn tăng động/Giảm chú ý

Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) là một hội chứng bao gồm không chú ý, hiếu động thái quá và hấp tấp, bốc đồng. 3 dạng ADHD chủ yếu là giảm chú ý, tăng động/bốc đồng, và kết hợp cả hai dạng trên. Nhận biết hơi mơ hồ ,Chủ yếu dựa vào các tiêu chuẩn lâm sàng. Điều trị thường bao gồm liệu pháp dùng thuốc , liệu pháp hành vi và các biện pháp can thiệp mang tính giáo dục.

Rối loạn tăng động/giảm chú ý (ADHD) là một loại rối loạn phát triển thần kinh. xuất hiện sớm trong thời thơ ấu, thường là trước khi bắt đầu đi học ( thường sau 12 tháng tuổi đến tiểu học) và làm suy giảm sự phát triển của các chức năng cá nhân, xã hội, học tập, thường biểu hiện tăng hoạt dộng quá mức, ít tập trung, đôi khi kèm chậm nói ,nói không rõ chữ.

Chúng thường liên quan đến những khó khăn trong việc tiếp thu , chú ý, trí nhớ, nhận thức, ngôn ngữ,  hoặc tương tác xã hội.

Nhìn chung, tỷ lệ mắc ADHD ở trẻ trai cao gấp đôi (2), mặc dù tỷ lệ này khác nhau tùy theo loại. Loại chủ yếu hiếu động/bốc đồng xảy ra thường xuyên hơn ở bé trai (3); loại chủ yếu là thiếu chú ý xảy ra với tần suất xấp xỉ bằng nhau ở cả hai giới. ADHD có tính gia đình.

Rối loạn tăng động /Giảm chú ý không có nguyên nhân cụ thể. Các nguyên nhân tiềm ẩn của ADHD bao gồm các yếu tố di truyền, sinh hóa, vận động nhạy cảm, sinh lý và hành vi. Một số yếu tố thuận lợi bao gồm cân nặng khi sinh < 1500 g, chấn thương đầu,hoặc có thể tiếp xúc điện thoại thông minh ,TV sớm và quá nhiều, thiếu sắtngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn và phơi nhiễm chì, cũng như phơi nhiễm trước khi sinh với rượu, thuốc lá và có thể cả cocaine (3). ADHD cũng có liên quan đến trải nghiệm thời thơ ấu bất lợi (4). Khoảng ít hơn 5% trẻ em bị chứng ADHD có bằng chứng tổn thương thần kinh. Bằng chứng cho thấy sự khác biệt trong các hệ thống dopaminergic và noradrenergic với hoạt động hoặc kích thích giảm ở thân não trên và vùng trán-não giữa (5).

Điều quan trọng là gia đình phát hiện sớm các bất thường ở trẻ để thăm khám kịp thời.,nhất là giai đoạn chuẩn bị biết nói.

Tài liệu tham khảo chung

  1. 1. Boznovik K, McLamb F, O’Connell K, et al: U.S. national, regional, and state‑specific socioeconomic factors correlate with child and adolescent ADHD diagnoses. Sci Rep 11:22008, 2021. doi: 10.1038/s41598-021-01233-2
  2. 2. Ayano G, Demelash S, Gizachew Y, Tsegay L, Alati R: The global prevalence of attention deficit hyperactivity disorder in children and adolescents: An umbrella review of meta-analyses. J Affect Disord 339:860–866, 2023. doi:10.1016/j.jad.2023.07.071
  3. 3. Morrow CE, Xue L, Manjunath S, et al: Estimated Risk of Developing Selected DSM-IV Disorders Among 5-Year-Old Children with Prenatal Cocaine Exposure. J Child Fam Stud 18(3):356–364, 2009. doi:10.1007/s10826-008-9238-6

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *